Biên phòng là gì? Các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng theo Luật

Chào mừng bạn đến với 4kings-championship.com trong bài viết về Khái niệm biên phòng là gì chúng tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm chuyên sâu của mình cung cấp kiến thức chuyên sâu dành cho bạn.

Bộ đội biên phòng là một trong những lực lượng nòng cốt trong Quân đội nhân dân Việt Nam, là lá chắn thép nơi biên cương Tổ quốc. Không quản khó khăn, khắc nghiệt của môi trường, mưa gió giá rét về mùa đông, nắng cháy khô hạn về mùa hè, những chiến sĩ quân hàm xanh – người lính biên phòng luôn chắc tay súng vững vàng nơi tuyến đầu để giữ yên biên cương Tổ quốc.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ cao cả đó, công tác quản lý Bộ đội Biên phòng luôn được kiểm tra, củng cố xát sao. Pháp luật cũng đã nhanh chóng sửa đổi bổ sung, ban hành Luật biên phòng mới năm 2020 để phù hợp với tình hình mới, quy định cụ thể những nhiệm vụ quyền hạn của nhóm lực lượng này. Bài viết dưới đây sẽ đi vào phân tích các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng theo Luật Biên phòng.

*Căn cứ pháp lý

– Luật Biên phòng năm 2020;

– Luật Biên giới quốc gia năm 2003;

– Nghị định 140/2004/NGG-CP của Chính phủ hướng dẫn Luật biên giới quốc gia;

– Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997.

Luật sư tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài: 1900.6568

1. Biên phòng là gì?

Trong giải nghĩa Từ điển Tiếng Việt, biên phòng là động từ chỉ hoạt động canh phòng nơi biên giới. Dưới góc độ thuật ngữ pháp lý, Khoản 1 Điều 2 Luật Biên phòng năm 2020 đã giải nghĩa như sau:

“Biên phòng là tổng thể các hoạt động, biện pháp bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.”

Theo đó, yêu cầu Biên phòng được đặt ra bao gồm những nhiệm vụ như sau:

– Xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch bảo vệ biên giới quốc gia.

– Quản lý, bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới quốc gia; xây dựng, quản lý, bảo vệ hệ thống mốc quốc giới, vật đánh dấu, dấu hiệu đường biên giới, công trình biên giới, cửa khẩu, công trình khác ở khu vực biên giới.

– Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, hòa bình, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội, tài nguyên, môi trường; bảo đảm việc thi hành pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu.

– Phát triển kinh tế – xã hội kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại ở khu vực biên giới.

– Xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân; xây dựng khu vực phòng thủ cấp tỉnh, cấp huyện biên giới, phòng thủ dân sự; phòng, chống, ứng phó, khắc phục sự cố, thiên tai, thảm họa, biến đổi khí hậu, dịch bệnh; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn ở khu vực biên giới.

Hợp tác quốc tế về biên phòng, đối ngoại biên phòng, đối ngoại nhân dân, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, ổn định lâu dài.

– Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu chống chiến tranh xâm lược, xung đột vũ trang.

Cùng với đó Bộ đội biên phòng là một bộ phận quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam, được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn an ninh trật tự trong khu vực biên giới; quản lý, kiểm soát xuất, nhập cảnh, đấu tranh chống tội phạm; tham gia làm công tác đối ngoại…Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc biên chế của Bộ đội Biên phòng.

Phần lớn cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng đóng quân ở nơi biên giới, hải đảo; công tác, chiến đấu, sinh hoạt ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, môi trường khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt có nhiều khó khăn; nhiệm vụ của các đồng chí rất quan trọng, rất vẻ vang, nhưng cũng rất nặng nề. Bộ đội Biên phòng gắn bó máu thịt với nhân dân các dân tộc. Các chiến sĩ biên phòng cũng tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị ở các xã biên giới vững mạnh; triển khai hiệu quả nhiều chương trình, mô hình phát triển kinh tế-xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nhất là đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, góp phần thắt chặt đoàn kết quân dân, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Biên phòng tiếng anh là “Border”

2. Tổng quan về Luật Biên phòng năm 2020:

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa ký ban hành Quyết định số 286/QĐ-TTg – Kế hoạch triển khai thi hành Luật Biên phòng Việt Nam năm 2020. Trước đó, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XIV, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật Biên phòng Việt Nam với tổng số phiếu tán thành là 94,61% đại biểu tham gia biểu quyết tán thành.

Luật gồm 06 chương, 36 điều quy định chính sách, nguyên tắc, nhiệm vụ, hoạt động, lực lượng, bảo đảm và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân về biên phòng. Theo Kế hoạch, các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương sẽ tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia và xây dựng lực lượng nòng cốt, chuyên trách; điều ước quốc tế, các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới phù hợp với Luật Biên phòng Việt Nam.

Đồng thời, xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Biên phòng Việt Nam. Trong đó, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan liên quan trong tháng 9/2021 trình Chính phủ 2 Nghị định: Quy định chi tiết một số điều của Luật Biên phòng Việt Nam (quy định chi tiết Khoản 4 Điều 10, Khoản 2 Điều 21, Khoản 2 Điều 27) và Quy định quản lý, sử dụng và danh mục các phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ của bộ đội biên phòng (quy định chi tiết Khoản 2 Điều 22).

Thủ tướng yêu cầu trong tháng 9/2021, Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ở khu vực biên giới” và “Dự án Tăng cường lực lượng; nâng cao năng lực; sửa chữa, trang bị, nâng cấp phương tiện chuyên dụng thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật của bộ đội biên phòng giai đoạn 2021-2025”.

Ngoài ra, Bộ Quốc phòng phải hoàn thành xây dựng 2 thông tư của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong tháng 11/2021: Thông tư quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng thuộc quyền trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới; phối hợp giữa bộ đội biên phòng và các lực lượng thuộc Bộ Quốc phòng trong thực thi nhiệm vụ biên phòng (quy định chi tiết Khoản 4 Điều 10, Khoản 2 Điều 29) và Thông tư quy định hình thức quản lý, bảo vệ biên giới thường xuyên và hình thức quản lý, bảo vệ biên giới tăng cường của bộ đội biên phòng (quy định chi tiết Khoản 3 Điều 19).

3. Các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng theo Luật Biên phòng:

a) Nguyên tắc thực thi nhiệm vụ biên phòng

– Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, biên giới quốc gia của các nước.

– Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.

– Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, hệ thống chính trị, dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân.

– Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh; kết hợp thực thi nhiệm vụ biên phòng với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đối ngoại ở khu vực biên giới.

b) Các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng theo Luật Biên phòng năm 2020

Điều 15, Luật Biên phòng Việt Nam quy định, Bộ đội Biên phòng có 8 nhóm quyền hạn cụ thể. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Bộ đội Biên phòng trực tiếp và phối hợp, hợp tác với các cơ quan, lực lượng thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:

“1. Bố trí, sử dụng lực lượng, phương tiện, thiết bị kỹ thuật để thực thi nhiệm vụ; áp dụng hình thức, biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia theo quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này.

2. Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, hệ thống mốc quốc giới, vật đánh dấu, dấu hiệu đường biên giới, công trình biên giới, cửa khẩu; cấp, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ thị thực và các loại giấy tờ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; kiểm tra, kiểm soát phương tiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, xử lý phương tiện vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật.

3. Đấu tranh, ngăn chặn, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật.

4. Hạn chế hoặc tạm dừng hoạt động ở vành đai biên giới, khu vực biên giới, qua lại biên giới tại cửa khẩu, lối mở theo quy định tại Điều 11 của Luật này.

5. Sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định tại Điều 17 của Luật này.

6. Huy động người, tàu thuyền, phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự theo quy định tại Điều 18 của Luật này.

7. Trực tiếp truy đuổi, bắt giữ người, phương tiện vi phạm pháp luật từ biên giới vào nội địa; phối hợp với các lực lượng truy tìm, bắt giữ người có hành vi vi phạm pháp luật trốn chạy vào nội địa; truy đuổi, bắt giữ người, phương tiện vi phạm pháp luật trốn chạy từ trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam ra ngoài phạm vi lãnh hải Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

8. Hợp tác, phối hợp với lực lượng chức năng của nước có chung đường biên giới, các nước khác và tổ chức quốc tế trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, cửa khẩu, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

Như vậy, các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng quy định trong Luật Biên phòng Việt Nam thể hiện:

Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ, sâu sắc các quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nguyên tắc, phương châm, phương thức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên phòng quốc gia và xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng trong tình hình mới; đặc biệt tỏng bối cảnh đại dịch toàn cầu, Luật Biên phòng mới đã quy định cụ thể những nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của Bộ đội Biên phòng, đó là: “Để thực hiện chức năng và các nhiệm vụ trên, Bộ đội Biên phòng được Nhà nước giao cho quyền thừa hành pháp luật, thực hiện quản lý nhà nước đối với biên phòng quốc gia trên bộ và trên biển theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao, trên địa bàn quy định, có quyền xử phạt hành chính, quyền điều tra tố tụng hình sự và được quyền bố trí, sử dụng lực lượng thích hợp để chấp hành nhiệm vụ”.

Thứ hai, tiếp tục kế thừa và luật hóa một cách tập trung, cụ thể các quyền hạn được quy định (Điều 11 đến Điều 17) trong Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng và các văn bản dưới luật khác, như nhóm quyền hạn tại Khoản 2, nhất là quyền hạn kiểm tra, kiểm soát phương tiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật, xử lý phương tiện vi phạm pháp luật ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn áp dụng, khẳng định là cần thiết và đúng đắn đồng thời, phân thành từng nhóm bảo đảm ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện Chẳng hạn như “Quyền được trang bị, sử dụng vũ khí, khí tài, kỹ thuật quân sự, công cụ hỗ trợ” ở Điều 11 và “Quyền được nổ súng” trong các trường hợp tại Điều 17, Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng được quy định thành nhóm quyền sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tại Khoản 5, Điều 15, Luật Biên phòng Việt Nam

Thứ ba, bổ sung một số quyền hạn mới phù hợp với thực tiễn xây dựng, quản lý, bảo vệ Bộ đội Biên phòng trong điều kiện đất nước hội nhập quốc tế. Việc Luật Biên phòng Việt Nam lần đầu tiên quy định Bộ đội Biên phòng có quyền áp dụng hình thức, biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; quyền hợp tác, phối hợp với lực lượng chức năng của các nước khác (ngoài những nước có chung đường biên giới) và các tổ chức quốc tế trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, cửa khẩu, phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Bộ đội Biên phòng trong quản lý, bảo vệ Biên giới quốc gia và mở rộng hợp tác quốc tế để đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ biên phòng trong bối cảnh mới của đất nước, khu vực và toàn cầu.

Thứ tư, các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng trong Luật Biên phòng Việt Nam đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ, không mâu thuẫn, chồng chéo với quyền hạn của các lực lượng khác trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu; đồng thời, hoàn toàn thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác quy định về quyền hạn của Bộ đội Biên phòng. Ví dụ như: Điều tra hình sự, xử lý vi phạm hành chính, quản lý, kiểm soát xuất, nhập cảnh…

Nhìn chung, các quyền hạn của Bộ đội Biên phòng đã được Luật Biên phòng Việt Nam xác định cụ thể, rõ ràng; do đó, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng phải tích cực nghiên cứu, quán triệt, nắm chắc, thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn được giao; tránh tình trạng có thẩm quyền mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, vượt quá thẩm quyền dẫn tới vi phạm kỷ luật, pháp luật, ảnh hưởng đến uy tín của Bộ đội Biên phòng.

Rate this post