Những bài thơ viết trong tù của một tội nhân – CAND

Chào mừng bạn đến với 4kings-championship.com trong bài viết về Stt tù tội chúng tôi sẽ chia sẻ kinh nghiệm chuyên sâu của mình cung cấp kiến thức chuyên sâu dành cho bạn.

Ban mai xanh đến nghẹn ngàoCó tia nắng lạc rơi vào tim tôiGiọt sương lặng lẽ đơn côiHay là nước mắt của người phương xaĐi tìm kỷ niệm hôm quaNgười đâu chẳng thấy, cỏ hoa ngậm ngùiRiêng tôi với lại…một tôiMột ban mai với một trời nhớ thương(Ban mai buồn)

Những bài thơ này, người tù nhân kia đã viết ra trong những khoảnh khắc cô đơn nhất, khi mà lương tri anh thức tỉnh, khi tội ác đã chỉ còn là một miền ký ức được bao phủ bởi ánh sáng của sự sám hối. Những câu thơ buồn, chứa đựng nỗi nghẹn ngào của một người con trai lỡ đánh mất cuộc đời… Nhưng thẳm sâu trong nỗi đau đắng chát ấy, chúng tôi nhìn thấy một thứ ánh sáng khác của lương tri, một vẻ đẹp đau đớn của lòng khát khao phục thiện.

Bắt đầu từ bức thư của nhà thơ tật nguyền Đỗ Trọng Khơi gửi cho toà soạn báo chúng tôi. Đỗ Trọng Khơi được văn đàn và bạn đọc biết đến như một tấm gương đầy xúc động của một người đàn ông có số phận quá bất hạnh nhưng đã không chịu đầu hàng số phận, sống và làm việc không ngừng trên chiếc giường và viết ra những tác phẩm văn chương. Mới đây nhất anh vừa xuất bản tập thơ mới.

Anh cũng là người có khả năng thiên bẩm về thẩm bình thơ của người khác. Trong bức thư Đỗ Trọng Khơi gửi cho CAND Cuối tuần có kèm theo bản thảo 22 bài thơ đánh máy sạch sẽ cẩn thận.

Thư viết: “Các anh các chị trong BBT kính mến! Có một tù nhân tên là Nguyễn Thế Tấn lĩnh án 19 năm tù giam và đang thi hành án ở Đội 25 – Phân trại số 2, Trại giam Tân Lập – Phú Thọ. Cậu Tấn này quê ở Hải Phòng, không có họ hàng quen biết gì với tôi cả. Cậu ấy đã gửi thư về cho nhà văn Trần Văn Thước, quê ở Tiền Hải, Thái Bình nhờ anh Thước xem hộ thơ của cậu ấy giúp. Chẳng là cậu ấy đọc ở trên Báo Tiền Phong có chân dung của anh Thước nên đã viết thư gửi theo địa chỉ của anh Thước. Anh Thước lại nhờ qua tôi.

Tôi đã đọc và thấy rất được nên đã biên thư vào trại giam cho cậu ấy. Nhận được thư của tôi, cậu ấy đã viết lại cho tôi một bức thư dài, và có nhờ mẹ của cậu ấy ở Hải Phòng gửi cho tôi một tập bản thảo chép tay bao gồm 90 bài thơ. Tôi biên tập lại và thấy có thể dùng được 22 bài. Tôi đánh máy cả 22 bài và gửi tới nhà thơ Hồng Thanh Quang, người đang phụ trách nội dung các tờ báo mà tôi rất thích đọc. Hy vọng những bài thơ của Tấn – một tù nhân đang thi hành án trong tù sẽ được đăng, để động viên cậu ấy trên con đường phục thiện.

Thơ của cậu Tấn, âm hưởng chủ yếu là chịu ảnh hưởng thời Thơ Mới. Song cũng có nét quý, đa phần các sáng tác tỏ ra có nghề, khá nhuần nhuyễn khi sử dụng các thể loại thơ truyền thống. Đặc biệt, với hình ảnh một tù nhân, thơ cậu tỏ ra có chí, muốn phục thiện. Thơ có trải nghiệm, đúc kết lẽ đời. Tôi vui mừng khi nhận biết tiềm năng trong sáng tác của cậu ta.

Nếu những bài thơ này của cậu ta được in trên các ấn phẩm của Báo CAND thì quý cho cậu ta nhiều. Tôi nghĩ, điều này xảy ra, chắc sẽ giúp cậu ta cải tạo tốt hơn và biết đâu sau này cậu ấy sẽ trở thành cây bút tốt. Đây là việc làm nhân văn nhất của tất cả chúng ta đối với một tù nhân đang trên đường phục thiện để tìm lại chính mình.

Kính thư: Đỗ Trọng Khơi“.

Sau khi nhận được thư cùng với 22 bài thơ của người tù đã được Đỗ Trọng Khơi cẩn thận biên tập lại, chúng tôi liên lạc ngay với anh Đỗ Trọng Khơi để hỏi về số phận của tù nhân Nguyễn Thế Tấn. Trong cuộc trò chuyện với anh, chúng tôi đã được Đỗ Trọng Khơi chuyển fax toàn bộ lá thư của tù nhân Nguyễn Thế Tấn gửi cho anh.

Nhìn nét chữ khá đẹp, mang nhiều nét bay bướm nhưng lại rõ ràng và đều tăm tắp như nét chữ con gái, cả Đỗ Trọng Khơi và BBT chúng tôi đoán rằng, tù nhân Nguyễn Thế Tấn là một người được học hành tử tế. Đọc những gì anh viết trong bức thư, hành văn mạch lạc, cách diễn đạt khúc chiết, câu văn gãy gọn và khá sâu sắc, cả bức thư không có vết tẩy xóa của các từ sai hay câu sai như thường thấy ở các tội phạm, chúng tôi không phải biên tập một từ, một câu chữ nào. Điều này giúp chúng tôi càng khẳng định thêm rằng, tù nhân Nguyễn Thế Tấn là người có học vấn, có tri thức.

Chỉ tiếc rằng, trong thư tù nhân Nguyễn Thế Tấn gửi cho nhà văn Trần Văn Thước và cả nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, anh ta tuyệt nhiên không tâm sự gì về nguyên nhân quá khứ lầm lỗi của mình.

Vì lý do gì mà anh ta phạm tội và án phạt 19 năm tù cho thấy tội của Nguyễn Thế Tấn khá nặng. Chúng tôi cũng đã có liên lạc điện thoại lên Trại giam Tân Lập, Phú Thọ, để biết thêm về nhân thân của Nguyễn Thế Tấn cũng như tội danh của anh ta, anh ta đang thi hành án tù vì đã gây ra tội ác gì.

Thật đáng tiếc chúng tôi vẫn chưa liên lạc được nên chưa thể thông tin đầy đủ đến bạn đọc về cuộc đời và số phận của tù nhân Nguyễn Thế Tấn. Nhưng dù cho người đàn ông này có phạm vào tội ác gì, quá khứ của anh ta có lầm lạc và tội lỗi đến đâu thì đã có pháp luật nghiêm trị.

Chúng tôi chỉ đề cập tới một khía cạnh trong tâm hồn đầy những sám hối về tội lỗi của Tấn đã được ánh sáng của lòng từ bi và khát khao phục thiện soi rõ. Bức thư của Tấn viết cho nhà thơ Đỗ Trọng Khơi cho thấy anh ta đã nhận thức được tội lỗi của mình, nhận thức được nỗi đau, hậu quả của quá khứ lầm lạc.

Bức thư cũng là những tâm sự cất lên từ cõi lòng đau đớn của một tù nhân hiểu được lẽ đời “Tân Lập ngày 18/11/2008. Thưa chú! Cháu có được sự may mắn hiếm có trong đời và niềm vinh hạnh lớn lao khi được chú Thước hồi âm và còn khuyên cháu nên viết cho chú Khơi… Như chú đã biết. Cháu chỉ là một kẻ hậu sinh tuổi đời còn non trẻ, hiểu biết về cuộc sống còn hạn hẹp, kiến thức nông cạn và cũng không phải là người có năng khiếu văn chương. Hơn nữa, cháu đã từng có một quá khứ lầm lỗi. Và để trả giá cho cái quá khứ hư hỏng đó, cháu đang phải thi hành án phạt tù trong trại giam với thời hạn 19 năm kể từ ngày 18/2/2005.

Nhưng có một điều cháu có thể đảm bảo với chú là cháu thực sự muốn trở lại làm người, đúng nghĩa con người chú ạ. Và cháu cũng muốn được tiến gần hơn nữa tới văn chương, đặc biệt là thơ. Cháu còn muốn hòa mình vào với các con chữ chứ không chỉ “kính nhi viễn chi” nhưng tiếc nuối óc kiến văn của cháu còn rất hạn hẹp.

Chú Khơi ạ! Hôm nay cháu viết cho chú không ngoài mục đích mong chú lấy cái tâm cao rộng của người làm nghệ thuật coi cháu như con cháu trong nhà mà chỉ lối soi đường cho cháu, dạy bảo dìu dắt cháu để cháu tìm ra con đường đúng đắn mà trở lại làm người. Cháu đã chép tất cả các bài thơ vào sổ tay và khi nào gia đình cháu lên thăm, cháu sẽ nhờ người gửi tới chú qua đường bưu điện. Cháu biết, trong đó sẽ có nhiều câu “hết sức kém cỏi”.

Cháu muốn sự diện kiến của cháu cũng chỉ mong chú tìm ra điểm yếu, thiếu sót để uốn nắn cho cháu. Vì vậy xin chú cho cháu những lời nhận xét, đánh giá khách quan và sát thực nhất. Mấu chốt là chú hãy cho cháu hiểu là cháu có thể viết văn và làm thơ được không? Bởi vì cháu cũng biết từ một người yêu thơ đến một nhà thơ là cả một khoảng cách lớn mà không phải tất cả những người yêu thơ đều có thể trở thành nhà thơ. Thật là quý nếu chú cho cháu biết cháu đang đứng ở chỗ nào trong cái khoảng cách độc giả và nhà thơ.

Thưa chú Khơi! Việc cháu viết chỉ là do tự phát mà thôi, chỉ là những gì bản thân cháu đã trải qua… cháu chưa được học hành hay được đào tạo, trải nghiệm gì cả. Tất cả rất mơ hồ chú ạ! Cháu đọc cũng chả được mấy. Trước đây cháu theo học thiên về khoa học tự nhiên nên kiến thức khoa học xã hội của cháu rất kém. Bây giờ cháu muốn đọc lắm nhưng ở đây lại rất thiếu thốn các món ăn tinh thần. Cháu thèm được đọc lắm mà không có để đọc. Cháu tiếc thời gian đã trôi qua chú ạ! Cháu tiếc lắm! Tiếc đến xót xa. Người ta tù thì cứ qua ngày, hết ngày là vui. Cháu thì một ngày trôi qua là biết mình đã để phí biết bao thời gian quý giá. Ôi những sai lầm của quá khứ! Thật đau lòng phải không chú?…

Kính thưa chú! Cháu trai trong lòng còn rất nhiều tâm sự. Nhưng làm sao có thể viết ra hết qua một lá thư. Hơn nữa, cháu cũng còn chưa biết những gì cháu gửi gắm có làm phiền chú nhiều không nữa. Nhưng chú Thước cũng đã củng cố thêm niềm tin của cháu vào những người làm nghệ thuật, nhất là những người nặng tình với nghiệp văn chương. Và hôm nay, cháu vẫn vững tin vào niềm tin ấy…

Cuối thư, một lần nữa cho phép cháu bày tỏ với chú lòng kính trọng và sự biết ơn đối với sự quan tâm giúp đỡ của các chú tới một tù nhân lầm lỗi như cháu.

Cháu trai yêu thơ Nguyễn Thế Tấn, Đội 25 – Phân trại số 2 – Trại giam Tân Lập, Hạ Hòa, Phú Thọ“.

Trong số 22 bài thơ của Tấn mà chúng tôi có được từ nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, có một điều rất rõ rệt trong những bài thơ ấy là nỗi buồn đau xót xa của Nguyễn Thế Tấn trong những ngày sống, cải tạo và chiêm nghiệm trong nhà tù. Những cảm giác đắng lòng vì mất mát ấy là những gì anh ta đã nếm trải.

Chúng tôi xin trích đăng một số đoạn cùng bạn đọc chia sẻ với Tấn “Thu tàn nắng trở vào Đông/ Người theo con sáo sang sông với người/ Vàng theo những xác lá rơi/ Cùng dăm cánh bướm bên trời ngẩn ngơ/ Gió đi bước bước thẫn thờ/ Con chim đang hót… bất ngờ… lại thôi/ Treo nghiêng mấy dải nắng trời…” (Lập đông 2008). Đây là những khoảnh khắc cô liêu của Tấn trong nỗi bất hạnh mà Tấn đang phải trả giá.

Nhưng cũng có lúc, Tấn trở nên già dặn hơn, đầy suy tư hơn bởi những chiêm nghiệm mang tính triết lý: “Chẳng cứ phải mây lang thang/ Không thân nước chảy cũng mang phận bèo/ Thung dung với cái phận nghèo/ Thuyền thơ cùng một mái chèo tình si/ Sinh là chi, tử là chi/ Những mong để lại chút gì trong nhau/ Ngày sau… biết có dài lâu/ Ai người vật vã mưu cầu lợi danh?” (Thi hứng).

Những bài thơ hay là những bài thơ Tấn viết dành cho người thân, gia đình và người vợ yêu, người mẹ già thương nhớ. Thật ra đó chính là nỗi lòng của Tấn tuôn trào, nỗi nhớ rất thực trong lòng Tấn tan chảy: “Gửi cho em niềm vui/ Anh thấy mình giả tạo/ Gửi cho em nỗi buồn/ E đời thêm giông bão/ Ngỏ cùng em lời hứa/ Giọt máu thắm đừng phai/ Đường đời nhiều trắc trở/ Dòng tháng năm thì dài/ Biết gửi gì phương ấy/ Cho tình yêu vẹn tròn?/ Đành cầm lời im lặng/ Lòng người bớt héo hon“. (Gửi cho em).

Tết này nữa, trọn ba năm/ Chân trời anh đành nuốt lệ thầm/ Em nơi góc bể ôm cay đắng/ Tình đang nồng thắm hóa tình câm/ Xuân sắc đầy căng, thành vô vị/ Rực rỡ… kể gì khi vắng nhau/ Còn bao thương nhớ trong tâm trí/ Nén chặt! Tim mình thêm nhói đau!/ Chẳng dám cầu xin em ở lại/ Trăm đường nào biết một con đường/ Mười hai bến nước… nào trong đục?/ Biết có gặp người thực lòng thương?/ Nếu theo duyên mới mà hạnh phúc/ Trăm xót ngàn thương… cũng cam lòng/ Chỉ e đò lại sang bến đục/ Em lại ra về, tay trắng không…/ Giáng sinh đang đến cùng thương nhớ/ Chuông chiều văng vẳng cuối trời xa/ Tiếng chuông cầu nguyện chuông nhắc nhở/ Chuông nguyện hồn người hay hồn ta…” (Thư gửi vợ).

Bài thơ viết cho mẹ ngày mẹ đến thăm cho thấy Tấn rất hối lỗi vì quãng đời lầm lạc của mình. Nếu đọc những dòng chữ trong bài thơ này, sẽ thấy tâm hồn của Tấn khát khao phục thiện biết bao: “Mẹ ơi con ở chốn này/ Đêm đêm thương nhớ, ngày ngày chờ mong/ Vậy mà khi gặp mẹ xong/ Đã nghe day dứt cõi lòng tái tê/ Đường xa vất vả mẹ đi/ Thương con nào quản bộn bề gian lao/ Vượt qua sông rộng núi cao/ Tuổi già sức yếu làm sao dễ dàng/ Mẹ giờ như chiếc lá vàng/ Đậu trong giông tố lại càng mong manh/ Đầu bạc nuôi kẻ đầu xanh/ Sinh con bất hiếu phận đành xót xa/ Sinh thành, dưỡng dục thiết tha/ Chỉ mong đến lúc về già cậy trông/ Con sai, con lỡ phụ công/ Thân con, đành vậy đau lòng mẹ cha…/ Còn mẹ con khỏi bơ vơ/ Vắng mẹ, rồi biết trông chờ vào ai/ Thời gian cải tạo còn dài/ Còn mẹ còn chốn một mai đi về/ Mái tranh quê, bát cơm quê/ Hè đi tròn bóng, Xuân về đơm bông/… Chiều nay trời cũng khóc thầm/ Vời trông bóng mẹ khuất trong bóng chiều” (Viết ngày mẹ đến thăm).

Hay như bài thơ Tấn viết cho con gái yêu trong ngày rằm trung thu. Qua đây chúng tôi cũng đoán biết được rằng Tấn đang còn trẻ, mới chỉ có con gái đầu lòng còn rất bé, chưa hiểu được vì sao ba vắng nhà lâu đến vậy, vì sao rằm trung thu ba không về mua đèn ông sao như đã hẹn: “Con đợi ba cùng đón Trung thu/ Bà thành thực bảo “chốn lao tù/ Bánh, hoa không có, trăng không sáng”- Ứ, cứ đợi ba về, đón Trung thu!/…Cứ thế con thơ chờ đợi mãi/ Đêm lên trăng tới quá đỉnh đầu, khuya về, trăng vẫn còn sáng tỏ/ Chiếc đèn lồng… treo ở nơi đâu“.

Nguyễn Thế Tấn cũng có cái hài hước đến thật thà chân thành khi bày tỏ tâm trạng “hâm hấp” của người yêu thơ khi khổ sở với công việc sáng tác thơ “Học cách làm thơ thấy thích thú/ Vò đầu, bứt tóc tìm chương cú/ Câu chữ chập chờn trong giấc ngủ/ Lúc mơ lúc tỉnh lúc mộng du/…Thơ cho vơi bớt nỗi đau tù/ Cho trong cho sạch thôi bụi mờ/ Chữ không mang ác, chữ mang thiện/ Và rằng đôi lúc chữ ngu ngơ/ Thưa rằng ta cũng ngu ngơ thật/ Tình gắng vươn cao, thân sát đất/ Bao giờ tới được chữ trong lành?/ Bao giờ tới được chữ long lanh?”.

Xin được chia sẻ với tù nhân Nguyễn Thế Tấn. Chúng tôi tin rằng, những ngày thụ án ở Trại giam Tân Lập, ánh sáng của tâm hồn anh đã mở ra một cánh cửa từ bi. Cầu chúc cho anh cải tạo thật tốt, sáng tạo nhiều thơ và sớm được trở về với gia đình và cuộc đời

Rate this post